Rà soát, kê khai thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp theo quy định mới

Căn cứ Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 và các văn bản sửa đổi, bổ sung;

Căn cứ Luật số 76/2025/QH15 ngày 17 tháng 6 năm 2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Doanh nghiệp;

Căn cứ Nghị định số 168/2025/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp;

Căn cứ Nghị định số 296/2026/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 168/2025/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp;

Căn cứ Thông tư số 68/2025/TT-BTC ngày 01 tháng 7 năm 2025 của Bộ Tài chính ban hành biểu mẫu sử dụng trong đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hộ kinh doanh;

Ban Quản lý Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh (Ban Quản lý) thông tin và đề nghị các doanh nghiệp thực hiện việc rà soát, xác định và kê khai, thông báo thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp theo quy định hiện hành, cụ thể như sau:

1. Về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp

Theo quy định hiện hành, Chủ sở hữu hưởng lợi của một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân là một hoặc nhiều cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu hoặc kiểm soát cuối cùng trên thực tế đối với doanh nghiệp đó, không bao gồm cá nhân đại diện cho vốn nhà nước trong doanh nghiệp (sau đây gọi là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp).

Việc xác định chủ sở hữu hưởng lợi được thực hiện theo các tiêu chí quy định tại Điều 17 Nghị định số 168/2025/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 296/2026/NĐ-CP.

Theo đó, doanh nghiệp cần rà soát cơ cấu sở hữu, quyền kiểm soát thực tế để xác định chủ sở hữu hưởng lợi, trong đó lưu ý:

  • Cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc vừa trực tiếp và gián tiếp sở hữu từ 25% vốn điều lệ hoặc từ 25% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của doanh nghiệp.
  • Chủ sở hữu gián tiếp là cá nhân sở hữu từ 25% trở lên vốn điều lệ hoặc từ 25% trở lên tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của doanh nghiệp thông qua các tổ chức hoặc các thỏa thuận pháp lý khác.
  • Trường hợp nhóm cá nhân có mối quan hệ gia đình theo quy định tại khoản 22 Điều 4 Luật Doanh nghiệp hoặc hợp đồng cùng nhau sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc vừa trực tiếp và gián tiếp từ 25% trở lên vốn điều lệ hoặc từ 25% trở lên tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của doanh nghiệp, doanh nghiệp xác định các cá nhân trong nhóm này là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp.
  • Đối với công ty hợp danh, tất cả thành viên hợp danh là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp không phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn điều lệ hay quyền biểu quyết của họ tại doanh nghiệp.
  • Trường hợp cá nhân không đáp ứng tiêu chí quy định tại khoản 1 Điều này, hoặc có căn cứ cho thấy cá nhân được xác định theo tiêu chí quy định tại khoản 1 Điều này không phải là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp, doanh nghiệp xác định chủ sở hữu hưởng lợi thông qua các phương thức khác theo pháp luật hoặc trên thực tế. Việc kiểm soát được thông qua một hoặc nhiều các quyền sau: Quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc bãi nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên hoặc chủ tịch hội đồng quản trị, đa số hoặc tất cả thành viên hoặc chủ tịch hội đồng thành viên, Giám đốc, Tổng giám đốc; sửa đổi, bổ sung điều lệ của doanh nghiệp; thay đổi cơ cấu tổ chức; quyết định chính sách tài chính, đầu tư và hoạt động của doanh nghiệp; tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp.
  • Trong trường hợp không có cá nhân đáp ứng tiêu chí tại khoản 1,2 Điều này, doanh nghiệp xác định một cá nhân là người quản lý doanh nghiệp có quyền hạn lớn nhất để hành động thay mặt cho doanh nghiệp, trừ trường hợp cá nhân đại diện vốn nhà nước trong doanh nghiệp.

Các tiêu chí nêu trên được áp dụng theo thứ tự quy định tại Điều 17 Nghị định số 168/2025/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 296/2026/NĐ-CP.

2. Về trách nhiệm kê khai, thông báo thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi

Người thành lập doanh nghiệp, doanh nghiệp có trách nhiệm xác định chủ sở hữu hưởng lợi và kê khai, thông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi theo quy định.

Việc xác định phải được thực hiện thông qua rà soát từng cấp trong cơ cấu sở hữu của doanh nghiệp cho đến khi xác định được cá nhân có quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát cuối cùng trên thực tế.

Doanh nghiệp thực hiện kê khai, thông báo thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi theo trình tự và biểu mẫu quy định của pháp luật về đăng ký doanh nghiệp.

3. Các nội dung doanh nghiệp cần lưu ý

Để bảo đảm thông tin đăng ký doanh nghiệp đầy đủ, chính xác và phù hợp với quy định hiện hành, Ban Quản lý đề nghị các doanh nghiệp:

(1) Rà soát toàn bộ cơ cấu sở hữu, thành viên, cổ đông, tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ, tỷ lệ cổ phần có quyền biểu quyết và các quyền kiểm soát thực tế tại doanh nghiệp;

(2) Xác định chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp theo các tiêu chí quy định tại Điều 17 Nghị định số 168/2025/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 296/2026/NĐ-CP;

(3) Rà soát thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi đã được kê khai, thông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh (nếu có), bảo đảm thông tin đầy đủ, chính xác và phù hợp với cơ cấu sở hữu, kiểm soát thực tế của doanh nghiệp;

(4) Trường hợp thuộc trường hợp phải kê khai, thông báo hoặc cập nhật thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi, doanh nghiệp thực hiện hồ sơ theo quy định pháp luật về đăng ký doanh nghiệp;

(5) Khi có thay đổi liên quan đến thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi, doanh nghiệp chủ động thực hiện việc cập nhật, thông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh theo quy định.

Ban Quản lý thông tin đến các doanh nghiệp để biết, chủ động rà soát và thực hiện theo đúng quy định pháp luật hiện hành.

Trong quá trình thực hiện, trường hợp có khó khăn, vướng mắc liên quan đến hồ sơ đăng ký, kê khai, thông báo thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi, đề nghị doanh nghiệp liên hệ Ban Quản lý để được hướng dẫn theo thẩm quyền./.

146 lượt xem

Tin cùng chủ đề